Hai tiệm cùng bán 15.000 đồng một ký chưa chắc lời giống nhau. Một tiệm giặt 30kg mỗi ngày, tiệm còn lại giặt 70kg. Tiền thuê và lương gần như không đổi, nên giá vốn của hai bên có thể chênh rất xa.
Vì sao không nên chép giá tiệm bên cạnh
Tiệm kế bên có thể thuê mặt bằng rẻ hơn bạn 3 triệu, mua máy cũ nên không phải khấu hao nhiều, hoặc đơn giản là họ đông khách gấp đôi. Cùng một mức giá, họ lời còn bạn lỗ.
Giá thị trường chỉ dùng để biết trần và sàn. Con số bạn cần tính là giá vốn của chính bạn.
Cách tính giá vốn giặt sấy theo kg
Trước hết, tách chi phí thành hai nhóm để không bỏ sót hoặc tính trùng.
- Chi phí cố định — thuê mặt bằng, lương, khấu hao máy. Tháng nào cũng trả như nhau, dù giặt 100 ký hay 10 ký.
- Chi phí nguyên liệu — điện, nước, hóa chất, túi. Giặt thêm một ký mới tốn thêm.
Một ví dụ tính giá giặt sấy
Bảng dưới đây lấy theo một tiệm dùng nước giặt và nước xả loại thông thường, không phải hóa chất công nghiệp đậm đặc. Liều dùng thực tế được tính là 15ml nước giặt và 12ml nước xả cho mỗi ký đồ. Nếu tiệm dùng hóa chất cô đặc hơn, lượng ml có thể thấp hơn nhiều; khi đó phải tính lại theo đúng hướng dẫn pha và lượng tiệm thật sự sử dụng.
Đây vẫn là ví dụ minh họa, không phải định mức chung cho mọi tiệm. Khi tính cho tiệm mình, hãy lấy hóa đơn điện nước, lượng hóa chất đã dùng và tổng số ký của ít nhất 3–4 tuần.
| Khoản | Cách tính | Tiền |
|---|---|---|
| Điện | 0,45 kWh × 3.500đ | 1.575đ |
| Nước | 15 lít × 21.300đ/m³ | 320đ |
| Nước giặt | 15ml × 25.000đ/lít | 375đ |
| Nước xả | 12ml × 50.000đ/lít | 600đ |
| Hóa chất phụ trợ | Tính bình quân theo mỗi ký | 150đ |
| Túi, móc, tem | Tính bình quân theo mỗi ký | 100đ |
| Cộng | 3.120đ |
Nếu chỉ nhìn 3.120đ chi phí trực tiếp rồi so với giá bán 15.000đ, bạn sẽ bỏ quên tiền thuê, lương, khấu hao và những mẻ phải giặt lại. Phần chênh đó chưa phải lợi nhuận.
Chi phí cố định mới là thứ quyết định
Lấy một tiệm nhỏ điển hình:
| Chi phí cố định mỗi tháng | Tiền |
|---|---|
| Thuê mặt bằng | 7.000.000đ |
| Lương 1 nhân viên | 8.000.000đ |
| Điện nước nền của tiệm | 1.000.000đ |
| Internet, rác và chi phí cố định khác | 800.000đ |
| Bảo trì, sửa máy | 500.000đ |
| Khấu hao máy (150 triệu ÷ 60 tháng) | 2.500.000đ |
| Cộng | 19.800.000đ |
Giả sử tiệm giặt 70 ký mỗi ngày, mở 30 ngày, tức 2.100 ký mỗi tháng:
Giá vốn = 9.429đ + 3.120đ = 12.548đ/kg
Trong ví dụ này, chi phí cố định chiếm khoảng 75% giá vốn. Tỷ lệ của tiệm bạn có thể khác, nhưng bài toán chung vẫn vậy: sản lượng thấp khiến mỗi ký phải gánh nhiều tiền thuê và lương hơn.
Sản lượng thay đổi thì giá vốn thay đổi theo
Vẫn tiệm đó, chỉ đổi lượng đồ giặt mỗi ngày:
| Giặt mỗi ngày | Giá vốn mỗi ký | Bán 15.000đ thì |
|---|---|---|
| 30 kg | 25.120đ | lỗ khoảng 10.120đ/kg |
| 50 kg | 16.320đ | lỗ khoảng 1.320đ/kg |
| 70 kg | 12.548đ | còn 2.452đ/kg trước các khoản chưa tính |
| 100 kg | 9.720đ | còn 5.280đ/kg trước các khoản chưa tính |
Đây là lý do hai tiệm cùng một con phố, cùng bán 15.000đ/kg, mà một tiệm có lời còn một tiệm sang lại sau nửa năm.
Đặt giá bán thế nào
- Tính giá vốn theo sản lượng bạn thật sự đạt được, không phải sản lượng mơ ước.
- Cộng biên lợi nhuận mong muốn và phần dự phòng cho giảm giá, giặt lại, thanh toán, thuế hoặc hao hụt nếu các khoản đó chưa nằm trong giá vốn. Ví dụ muốn biên lợi nhuận 30% trên doanh thu thì lấy giá vốn chia cho 0,7.
- So với giá thị trường quanh khu vực. Nếu giá bạn tính ra cao hơn hẳn mặt bằng chung, vấn đề nằm ở chi phí hoặc sản lượng chứ không phải ở giá.
Tính đúng giá rồi, nhân viên có áp dụng đúng không?
Bảng giá đúng trên giấy chưa chắc tạo ra doanh thu đúng ngoài quầy. Một nhân viên vẫn nhớ mức giá cũ, người khác quên tính phụ phí giặt gấp, còn chăn mền đáng lẽ tính theo món lại bị cân chung với đồ thường. Mỗi đơn chỉ lệch một ít nhưng cộng lại cả tháng có thể thành một khoản đáng kể.
- Chỉ dùng một bảng giá nội bộ đang có hiệu lực và ghi rõ ngày bắt đầu áp dụng.
- Mỗi lần đổi giá phải thu hoặc đánh dấu bản cũ, tránh để hai bảng cùng tồn tại tại quầy.
- Quy định rõ dịch vụ nào tính theo ký, theo món, theo diện tích hoặc theo số lượng.
- Mọi giảm giá ngoài chương trình chung phải được ghi lại, không chỉ thỏa thuận bằng miệng.
- Trong tuần đầu sau khi đổi giá, chọn ngẫu nhiên một số đơn ở từng ca để kiểm tra.
Sau một thời gian, đừng chỉ nhìn tổng doanh thu. Hãy xem dịch vụ nào tạo nhiều tiền, dịch vụ nào thường xuyên phải giảm giá và loại đơn nào chiếm nhiều công nhưng mang lại ít lợi nhuận. Đây mới là dữ liệu để điều chỉnh bảng giá lần sau.
Ba thứ nên có trong bảng giá
- Giá tối thiểu mỗi đơn. Tính theo công suất máy, thời gian xử lý và mức khách quanh khu vực chấp nhận; không nhất thiết tiệm nào cũng dùng cùng một mốc 3–5kg.
- Giá giặt gấp. Chỉ nhận khi còn đủ công suất và công bố phụ phí rõ từ đầu.
- Giá theo món. Chăn, mền, rèm và đồ chiếm nhiều thể tích nên cân nhắc tính theo món thay vì chỉ nhìn cân nặng.
- Phí giao nhận hoặc phạm vi miễn phí. Ghi rõ theo khu vực để không phải thương lượng lại từng đơn.
Câu hỏi thường gặp
Giá giặt sấy bao nhiêu 1kg là hợp lý?
Mức hợp lý là mức vừa cao hơn giá vốn thực tế của tiệm, vừa nằm trong khoảng khách mục tiêu chấp nhận. Vì tiền thuê, máy và sản lượng khác nhau, không nên dùng một con số chung cho mọi khu vực.
Có nên đặt mức tối thiểu cho mỗi đơn?
Nên cân nhắc nếu đơn ít đồ vẫn chiếm một mẻ máy, bao bì và thời gian nhận trả như đơn lớn. Có thể dùng số ký tối thiểu hoặc mức tiền tối thiểu.
Chăn mền nên tính theo ký hay theo món?
Đồ cồng kềnh thường phù hợp tính theo món vì thể tích lồng máy, thời gian sấy và công xử lý không phản ánh đầy đủ qua cân nặng.